Pages

Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng “hữu nghị” như từ 1979 đến nay



Nguyễn Trọng Vĩnh

Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên – Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta.

Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ và 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.

Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây bạch đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Đây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Định, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng bạch đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Đông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta.

Cậy có hải quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Đông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa, là Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ.

Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí”, xây nhà máy điện nguyên tử chỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.

Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông,mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.

Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có là mối nguy tiềm ẩn không?

Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?

Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, từng giữ các chức vụ Chính Ủy Khu 1 (1947), Cục Trưởng Cục Tổ Chức Tổng Cục Chính Trị (1950); Chính Ủy Quân Khu 1 (1958), Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hóa (1961-1964), Ủy Viên Dự Khuyết Trung Ương Ðảng (1960-1976), Ðại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Ông được biết đến nhiều sau khi lên tiếng phản đối dự án bauxite và những chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa.

35 năm và những giấc mơ riêng, chung

Lê Kiên Thành - con trai thứ 5 trong gia đình cố TBT Lê Duẩn.

1. “Gần trưa 30/4/1975, hay tin ta đã chiếm Dinh Độc Lập. Quên phắt cả sự tồn tại của phương tiện thông tin, như một người cổ sơ, tôi hấp tấp ra Viện phóng nhanh xe máy về nhà và lao thẳng vào phòng ba tôi.

Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975


Ở đây, một mình ba tôi đang ngồi lặng lẽ… Vẫn lặng lẽ, Người ngước mắt cười với tôi, rồi nước mắt bỗng trào ra từ đôi mắt thân thiết luôn ngời sáng trong tôi. Tôi đăm đăm nhìn đôi dòng nước mắt chảy dài trên nụ cười mãn nguyện của ba… Đã lặng lẽ, căn phòng lại càng lặng lẽ hơn. Đột nhiên, tôi thấy thời gian như ngưng lại và ánh sáng trong căn phòng cũng không còn là thứ ánh sáng thông thường của trời đất nữa.

Thật lạ lùng những cảm giác mà sự ngưng đọng này đã đem tới, nó trong suốt, tinh khiết và quá đỗi tuyệt vời, nó chưa bao giờ xuất hiện trong tôi và cũng không một lần trở lại… Trong cảm giác này, tôi thấy, dường như mình đủ sức để hiểu thấu cả nụ cười, đôi dòng nước mắt, cả thứ ánh sáng linh thiêng kỳ diệu của niềm hạnh phúc tột cùng đã từ ba tôi tràn khắp căn phòng...”

Chị tôi, TS Lê Thị Muội đã vẽ bức ký họa sinh động và chân thực hình ảnh của người cha - cố Tổng bí thư Lê Duẩn, người chịu trách nhiệm cuối cùng và cao nhất về chiến dịch Mùa xuân năm 75 lịch sử Ký ức về ngày 30/4/1975 - trong thời khắc quan trọng và thiêng liêng. Hơn ai hết, những người thân của ba hiểu rằng, đó là thời điểm hạnh phúc nhất của ông vì cuối cùng ông và đồng chí, đồng bào của mình cũng đã thực hiện được lời thề: Hoàn thành Cách mạng giải phóng miền Nam.

Đó là lời thề của một thế hệ, một dân tộc. Và trong suốt 20 năm trước đó, ông đã sống vì lời thề ấy.

Vì lời thề ấy, ba tôi đã có những việc làm thể hiện đến cùng cá tính quyết đoán và mạnh mẽ trong những thời điểm cam go mà một chính khách cần phải có, quên cả sự được mất của cá nhân...

Nhớ đến thời khắc 30/4/1975, tôi lại nhớ đến nỗi ám ảnh về lời mong ước của má từ chiến trường miền Nam: “Giá mà lúc này chạm tay vào các con một lần, tôi có thể đánh giặc thêm được 10 năm nữa...”. 

Thế hệ ba má tôi đã thực hiện được giấc mơ của mình bởi họ biết biến hiện thực giấc mơ. Và họ biết cách hành động đúng để thực hiện giấc mơ đẹp đó. 

2. Đến bây giờ, câu hỏi vì sao Việt Nam thắng Mỹ vẫn là điều kỳ diệu, khó giải thích, ngay cả với người Mỹ.

Có một quy luật bất biến trong chiến tranh, vật chất thắng vật chất. Napoleon cũng từng nói: “Chúa chỉ đứng về phía kẻ mạnh”. Nếu tính vật chất, người VN không bao giờ thắng Mỹ. Nhưng Việt Nam đã tạo được thứ vật chất hơn Mỹ.

Mỹ có máy bay trực thăng, hơn Việt Nam về vận tốc. Nhưng chúng ta lại có thứ vận tốc vô cùng lớn. Đó là sự có mặt của đội quân NHÂN DÂN ở khắp mọi nơi. 

Khi biết huy động con người, chúng ta huy động nhanh hơn cả trực thăng hiện đại của Mỹ… Thời điểm năm 1972, trên thế giới, chưa có nước nào bắn rơi B52- biểu tượng của sức mạnh vật chất thực sự. Nhưng người Mỹ ngỡ ngàng, bởi trong 12 ngày đêm, họ mất hơn 36 máy bay/200 chiếc. 


Hiện thực hóa giấc mơ vật chất không phải là chuyện xa vời. Nhưng...




Có thể lý giải điều này bằng lòng yêu nước. Nếu tình yêu nước đã biến thành tâm thức, hàng ngày, hàng giờ nghĩ về một điều duy nhất: Việt Nam phải thắng Mỹ, chúng ta sẽ nghĩ ra cách bắn rơi B52. Và chúng ta đã phát hiện ra: chỗ nào nhiễu nhất, chỗ đó có B52 và dùng rađa pháo cao xạ, điều khiển tên lửa qua điện thoại và đã bắn được máy bay... 

Ngày 30/4/1975 là chiến thắng tất yếu của những người CỘNG SẢN như ba, mẹ tôi đã coi lòng yêu nước là lẽ sống; như ba tôi từng nói “Mở mắt ra thấy đất nước, nhắm mắt lại cũng thấy đất nước”. HỌ (Đảng cộng sản Việt Nam) đã chiến thắng bởi trong suốt 20 năm của một cuộc chiến, với lý tưởng yêu nước của mình, đã quy tụ được những con người tinh hoa nhất của dân tộc. 

Và quan trọng hơn, họ đã tìm được sự đồng thuận cao nhất trong tư tưởng. “Đồng thuận” không đơn thuần là phải cùng nhau chung một ý kiến mà là cùng nhau yêu đất nước này. 


3. Sự thống nhất đất nước sau ngày 30/4/1975 đem tới sức mạnh mới cho huyết mạch quốc gia, một sức mạnh tự thân, tự nhiên không phụ thuộc vào ý chí một cá nhân nào. Một quốc gia thống nhất là điều kiện cần đầu tiên để trở nên hùng mạnh.


Sau năm 1975, thế hệ chúng tôi nhanh chóng bước qua những khó khăn của thời hậu chiến; nhiều người trong chấp nhận bước qua nhiều ngã rẽ để vươn vai trong thời đổi mới.

Sau 35 năm, nhiều gia đình nhanh chóng lần lượt thực hiện từng giấc mơ về vật chất. Thay xe đạp bằng xe máy, ôtô; thay nhà căn hộ bao cấp bằng chung cư cao cấp rồi tiến lên biệt thự... 

35 năm, chúng ta lần lượt chứng kiến những bãi rau muống ở Thành Công, Láng Hạ (Hà Nội) thành cao ốc; bãi sình lầy ở nam Sài Gòn thành khu Phú Mỹ Hưng đẹp đẽ, sang trọng. 

35 năm, đôi lúc tôi có cảm giác thời gian đi như chạy, nhanh hơn cả trăm năm, ngàn năm với hình những con đường cao tốc nối vùng miền, tỉnh lỵ những cây cầu bắc qua những con sông lần lượt hoàn tất... 

Thì hiển nhiên, hiện thực hóa giấc mơ vật chất không phải là chuyện xa vời. Nhưng... 

Và tôi đã từng đến nhiều vùng quê nghèo, đã từng chứng kiến cảnh hai chị em xin đi học 2 buổi khác nhau vì chỉ có một cái quần lành. Tôi trao học bổng 100.000 đồng cho một em, họ bảo nên chia ra để nhiều em được. 50.000 đồng, với không ít người chỉ là một ly cà phê sáng, với họ, là phần ăn cả một tháng. 

Không ai có thể đòi hỏi sự công bằng tuyệt đối nhưng lương của một Tổng giám đốc DN Nhà nước có thể gấp 100 lần so với lương của một Đại úy biển đảo là điều khó thể chấp nhận. Có thể có nhiều người cho là cũ kỹ nhưng tôi vẫn không quên lý tưởng của những người cộng sản thủa ban đầu là xây dựng một nhà nước mà trong đó sự công bằng là nền tảng. 

Nhà thơ Việt Phương từng viết: “Cứ đêm đêm ta tự kết nạp mình vào Đảng”. (Có nghĩa là: Mỗi ngày những Đảng viên tự kết nạp lại mình vào Đảng. Đấy mới là người Đảng viên đích thực). 

Nếu một khi nhìn thấy sự bất công, đau khổ mà không còn thấy cảm giác gì thì có lẽ, lúc đó anh không còn là người cộng sản. Con người yếu nhất khi họ nghĩ về bản thân nhiều nhất; khi họ lơi lỏng nghĩ về đất nước, dù chỉ trong vài phút. Hiển nhiên, khi đó chất cộng sản trong con người đó tồn tại ít nhất. 

Từng con người yếu sẽ không làm nên sự hùng mạnh của một dân tộc để dân tộc đó “sánh vai với các cường quốc năm châu” dù rằng chúng ta đã có nhà cao, đường đẹp....

Hãy là người yêu nước chân chính bằng lý trí và trí tuệ!

Đây là một bài viết được ST trên mạng đọc thấy hay và rất chuẩn, SD hy vọng mọi người dành thời gian đọc nó và cảm nhận theo lý trí của mình...





Gần đây tôi cũng thường theo dõi báo đài, các bản tin từ vietnamnet, BBC, VOA đến tận mạng sina, mạng fenghuang, mạng renmin của Trung Quốc. Bản thân cũng đã thu lượm được một bức tranh tương đối hoàn chỉnh với nhiều ý kiến khác nhau từ những bên khác nhau. Và dường như tôi càng đọc, tôi chỉ thấy được một điều rằng: mọi hành động của Trung Quốc là rất quá đáng, hung bạo, mang tính chất của một tên xâm lược còn mang nặng tư tưởng Đại Hán.....Nếu ai biết tiếng Trung đọc một số bài gần đây nhất của một số học giả Trung Quốc, chúng ta còn thấy họ chửi VN thậm tệ, không ra gì....Nhưng đã có ai trong số các bạn thử suy ngẫm xem đằng sau mọi hành động, mọi phát ngôn của Trung Quốc từ bà Khương Du đến các học giả được coi là “chính danh” của họ ẩn chứa mục đích gì? Đã bao giờ bạn liên hệ với thực tế trước đó với hành động & phát ngôn TQ hiện tại để phát hiện ra được điều gì chưa?

Tôi đã dịch một bài trên mạng “Quân sự thiên thiên” của Trung Quốc - một trong những trang mạng được coi như cứng rắn và “dân tộc chủ nghĩa” nhất tại TQ, bài viết có tên là “TQ sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề biển Đông, nước nào là đối tượng đầu tiên”. Trong bài viết này, dù là những đối tượng ôn hòa hay hiếu chiến nhất cũng đều công nhận “4 điểm bất lợi khi TQ tiến hành tấn công các đảo tại biển Đông của VN”, và những người này đều khẳng định rằng: cái lợi mà TQ thu về không bằng những thiệt hại mà TQ phải hứng chịu khi tiến hành cuộc tấn công.

Và trên những trang mạng như sina hay fenghuang, người TQ (những quan chức quân sự) cũng đã thừa nhận mục đích của những hành động mà họ gây ra với Việt Nam hay Phillipines đều nhắm vào một thỏa thuận có lợi với Mĩ tại diễn đàn quân sự Shangri La. Ngoài ra TQ còn có mục đích khác chính là muốn thử thái độ cuả Việt Nam chúng ta và còn để thỏa mãn một bộ phận tại TQ “muốn dùng vũ lực giải quyết tranh chấp” tại biển Đông. Chứ thực sự những nhà lãnh đạo cũng còn lâu mới dám phát động một cuộc chiến tranh tổng lực tại biển Đông trong điều kiện TQ chưa phải là số một của thế giới và nên nhớ thực lực của TQ còn thua xa Mĩ. Còn nếu những nhà lãnh đạo này mù quáng thực thi một chính sách diều hâu thì chắc chắn tự họ sẽ chôn vùi dưới đáy biển Đông không chỉ tính mạng của binh sĩ, tàu bè, đạn dược mà còn là thành tựu kinh tế của quá trình Cải cách mở cửa trong suốt hơn 30 năm qua. Thực lực của TQ cũng không cho phép TQ quá tự tin tiến hành những hành động quân sự đơn phương như Mĩ, không phép cho TQ thoát khỏi tình trạng “thao quang dưỡng hối”. Bởi nếu họ từ bỏ những gì mà họ đã tuyên bố, họ từ bỏ lời răn dạy của Đặng Tiểu Bình, từ bỏ một nước “TQ phát triển cùng thế giới” để trở thành một “cường quốc xét lại” thì họ chỉ đi theo vết xe đổ của các nước phát xít trước kia. Mà nên nhớ ngày xưa Phát xít còn có cả 1 phe Trục, còn nay TQ chỉ có một mình!



Chim hòa bình tung cánh trên Công viên Biển Đông - thành phố Đà Nẵng

Các bạn trẻ ah! Chúng ta đều là những con người yêu nước, đều là những con người có học, chúng ta cũng không thể phát ngôn hay hành động một cách thiếu suy nghĩ trước những vấn đề nhạy cảm như vậy. Bạn nên nhớ trong chính trị, trong quan hệ quốc tế, để giải quyết một vấn đề thì cái đầu luôn đi trước trái tim. Chúng ta phải nhìn cho thấu cho rõ sự việc rồi mới hành động. TQ thực sự vi phạm chủ quyền của VN và có những tuyên bố phi đạo lý. Đúng là như vậy! Nhưng những người làm những điều này là những kẻ mang nặng đầu óc Đại Hán của Trung Quốc- chỉ là một bộ phận nhỏ trong hơn 1 tỷ 3 dân TQ. Chúng ta chống ở đây là chống tư tưởng cường quyền, Đại Hán, chống những hành động phi đạo lý chứ chúng ta không chống nhân dân TQ, không phỉ báng tiếng Trung, không phỉ báng những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc đã gian khổ lao động để cống hiến cho nhân loại. Nhân dân TQ họ cũng giống như nhân dân VN vậy, họ cũng là những con người bình dị, cần cù, chịu khó và trọng lễ tín. Những con người TQ đó bạn phải tiếp xúc thực sự mới hiểu được họ! Trong xã hội nào cũng vậy thôi bạn ah, cũng có người tốt kẻ xấu. Ngay cả ở VN ta cũng vậy. Vẫn còn tồn tại những kẻ miệng thì nói tôi chống “Tàu khựa”, tôi yêu đồng bào tôi lắm trên Facebook nhưng còn ra bên ngoài sẵn sàng chửi bới, đánh những người đồng bào của mình sứt đầu mẻ trán chỉ vì những vụ việc nhỏ nhặt trên đường, vẫn còn những kẻ sống hoang tàn, phá hoại, là con sâu ăn bám của xã hội.....Và đó chỉ là những kẻ muốn mượn thời cuộc để đánh bóng bản thân, thực sự đó chỉ là những kẻ bỏ đi mà thôi. Vẫn có những kẻ ở hải ngoại muốn lợi dụng tinh thần chống Trung Quốc của người Việt Nam để chia rẽ dân tộc, muốn áp đặt lại cái tư tưởng “Nam- Bắc kỳ”. Hay chính những tay gián điệp của TQ muốn kích động, lợi dụng quần chúng tại VN, nhằm thực hiện những mục tiêu phá hoại.

Bạn ah, thái độ nhẫn nhjn của ta với TQ là có nguồn gốc truyền thống rồi, từ thời Trần Hưng Đạo khi triều đình chịu cảnh sứ giả "uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ", rồi thời Lê Lợi, giết dc Liễu Thăng nhưng mà.vẫn phải cống cho nhà Minh 1 tượng Liễu Thăng bằng vàng...TQ rõ ràng chỉ thử chúng ta, TQ nếu mà đánh thì bản thân TQ cũng ko dc lợi gì đâu...Nên ở đây nói là nhẫn nhịn chứ ko phải là nhục! Chúng ta chỉ hành động khi nào TQ có những hành động thực sự xâm phạm. Làm ngoại giao hay chính trị cái quan trọng là giữ dc bình tĩnh và đừng nôn nóng.

Bạn ah, hãy nhìn vào dân tộc Nhật Bản, Tại sao xuất phát điểm của họ từ một nước ngang hàng VN từ trước thế kỷ XIX mà họ đã vươn lên trở thành một cường quốc. Tôi cũng đã gặp gỡ nhiều người Nhật Bản và cái tôi nhận ra ở họ chính là sự điềm tĩnh, lòng can đảm.... Ở Nhật, Trẻ em được dạy, trầm tĩnh là biểu hiện của can đảm, không để bị giao động vì những bất ngờ, không có gì có thể làm giao động, bình thản trong trận mạc, giữ bình tĩnh trước tai ương. Động đất không làm Samurai xao xuyến, Samurai cười trước bão tố, giữ được tự chủ làm thơ khi đợi cái chết đến......Người Nhật Bản khiến tôi phải khâm phục, họ đã chỉ cho tôi những bài học về lòng can đảm,về sự bình tĩnh. Phải chăng chính lòng cam đảm, sự bình tĩnh đó đã giúp họ vượt qua được sự mặc cảm thấp kém, vượt qua được ảnh hưởng của những “ông thánh Trung Hoa” và trở thành một thực thể độc lập hòan toàn với Trung Quốc!

Bạn ah! Hãy đừng có dễ dàng và vô tâm nói đến hai chữ “Chiến tranh”. Hãy đừng nói hai chữ đó, khi bản thân bạn chỉ là một kẻ suốt ngày ngồi trong phòng máy lạnh và giết thời gian một cách vô ích. Hãy đừng nói hai chữ đó khi bản thân bạn chưa hiểu việc binh đao là như thế nào! Cũng đừng nói hai chữ đó khi bạn chưa hiểu độ thảm khốc của “Chiến tranh”. Bạn nên giữ bình tĩnh, bạn nên tỉnh táo! Bạn hãy yêu nước một cách thiết thực nhất, hãy biến những gì bạn suy nghĩ thành những hành động cụ thể và lí trí hơn. Theo tôi, những hành động đó tùy theo suy nghĩ của mỗi người nhưng mà đều có chung một cái nền tảng đó là “lí trí” và “trí tuệ”!


P/s:Chiến tranh không phải là điều mà 87 triệu con người VN mong muốn, cũng không phải là điều mà 1,3 tỷ người TQ mong muốn. Chiến tranh chỉ là sản phẩm bẩn thỉu của những kẻ bá quyền mà thôi! Bản thân tôi, tôi yêu những người thân quanh tôi, tôi yêu con phố nơi tôi sống, tôi yêu mái trường nơi tôi học, tôi yêu đất nước nơi tôi sinh ra, tôi cũng có thể sẵn sàng bình thản chấp nhận cái chết khi đánh đổi bản thân tôi với những gì mà tôi yêu quí.

Im lặng đáng sợ


Một trong những nét văn hóa trong các cơ quan công quyền ở trong nước là “văn hóa im lặng”. Giới quan chức nói chung ít khi nào trả lời email hay thắc mắc của người dân, và càng im lặng trước những văn thư của quan chức nước ngoài. Thật khó giải thích thái độ im lặng đó, nhưng vấn đề là nó (sự im lặng) có khi gây tổn hại đến quốc gia …

Cách đây vài hôm tôi nhận được email của bạn đọc (là một sinh viên) phàn nàn rằng khi em gửi email đến thầy cô xin tư vấn thì đều không nhận được trả lời. Ngược lại, em này cho biết khi gửi email đến các thầy cô ở nước ngoài thì đều nhận được trả lời, có khi trả lời rất nhanh nữa. Em này hỏi tôi tại sao có sự khác biệt về thái độ giữa thầy cô ngoại và nội như thế. Tôi còn đang suy nghĩ câu trả lời thì chợt liên tưởng đến những chuyện gần đây. Những chuyện này nói lên cái văn hóa tôi gọi là văn hóa im lặng. Văn hóa này rất phổ biến trong giới quan chức.

Hình như các quan chức trong các cơ quan công quyền có văn hóa im lặng. Các nhân sĩ gửi thư đề nghị giải thích về tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến chuyến đi của đặc phái viên Hồ Xuân Sơn. Đáp lại sự quan tâm đó là một sự im lặng dài từ Bộ Ngoại giao. Rồi đến phần lớn các kiến nghị của nhân sĩ cũng rơi vào … không khí. Thư từ thắc mắc của người dân cũng thế: rơi vào im lặng. Có lần nói chuyện với một cựu đại biểu Quốc hội, chị gọi đó là “im lặng đáng sợ”. Đáng sợ hay không thì tôi không rõ, nhưng thái độ đó chẳng những khó hiểu mà có khi còn gây tác hại.

Tác hại thì đã xảy ra. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Vietnam Airlines (VNA) thua kiện chỉ vì sự im lặng. Khoảng 5 năm (?) trước, tòa án Ý buộc VNA phải bồi thường cho luật sư Maurizio Liberati gần 5 tỉ lia và đồng thời thanh toán chi phí luật sư gần 60 triệu lia. Sự việc xảy ra chỉ vì VNA khinh thường tòa án, không cử người tham dự phiên tòa. VNA làm ngơ án lệnh. Sự việc dẫn đến tòa án Paris ra lệnh phong tỏa tài khoản VNA. Chẳng biết kết cục câu chuyện ra sao, nhưng đó là một bài học đắt giá cho sự xem thường luật pháp quốc tế.

Hôm qua, đọc được một tin đáng chú ý khác về tai hại nghiêm trọng của văn hóa “im lặng đáng sợ”. Tác giả Nguyễn Duy An (làm việc tại tạp chí National Geographic của Mĩ) thuật lại câu chuyện đằng sau vấn đề bản đồ Hoàng Sa làm tốn nhiều giấy mực và công sức của người Việt vào năm ngoái như sau:

"Để chuẩn bị cho mình một ít kiến thức căn bản về việc làm bản đồ ở National Geographic, tôi liên lạc với một trong những nhân viên kỳ cựu trong nhóm “Bản Đồ” để hỏi về việc “đổi tên” quần đảo Paracel Islands. Ông ấy đã cho tôi biết một chi tiết rất quan trọng là đối với những vùng đất “đang tranh chấp”, ít nhất là 10 năm một lần, những người phụ trách bản đồ khu vực đó sẽ liên lạc với các chính phủ liên quan để xem có gì thay đổi hay không, nếu hai bên vẫn còn tranh chấp thì cứ theo ấn bản cũ như trường hợp quần đảo Falkland Islands giữa Anh Quốc và Argentina. Riêng quần đảo Paracel Islands “Hoàng Sa” thì hơi đặc biệt vì từ hơn một năm trước, nhóm của ông ta cũng gởi thư xin “xác định” tới cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, nhưng họ không hề nhận được trả lời từ Việt Nam; trong khi đó, Trung Quốc thì ngược lại, không những họ “khẳng định chủ quyền” trên quần đảo Paracel Islands mà còn chính thức mời một nhân viên đến tham quan cho biết thực hư. Ông ta bảo tôi: “Anh nghĩ xem, khi anh tận mắt chứng kiến từ phi trường tới hải cảng, từ các văn phòng hành chính đến chợ búa đều do Trung Quốc điều hành, và họ còn dẫn chứng giấy tờ để chứng minh họ là chủ thì anh nghĩ vùng đất đó thuộc về ai? Bây giờ muốn sửa lại, chúng ta cần có tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam!”

Đọc những dòng chữ trên, tôi thật sự sốc. Thật khó tưởng tượng nổi tại sao những người có trách nhiệm quá vô cảm trước một vấn đề trọng đại như thế! Với những quan chức vô cảm như thế này thì nguy cơ mất mát và thua thiệt ngoại bang sẽ còn dài dài trong tương lai.





Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có văn hóa im lặng. Có lẽ không ai biết đích xác lí do tại sao các quan chức ta tiết kiệm lời lẽ, nhưng có thể nghĩ đến một số lí do sau đây:

Thứ nhất là vô cảm. Nhiều quan chức trong nước chẳng quan tâm đến chủ quyền biển đảo. Tôi đã gặp quan chức cấp tỉnh thậm chí còn chẳng biết Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam! Thật ra, cũng không trách họ vì họ thiếu thông tin. Những gì báo chí đưa tin không đầy đủ, và những gì phổ biến trong Đảng thì chưa chắc là những thông tin đa chiều. Trong bối cảnh như thế, nếu một quan chức nhận một công văn từ nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, có thể họ nghĩ đó là chuyện của … Trung Quốc.

Thứ hai là ngạo mạn và khinh thường. Nhiều quan chức Việt Nam xem người dân như cỏ rác. Thử nhìn qua các quan chức ngồi vào ghế nói chuyện với người dân thì biết. Họ chẳng thèm nhìn mặt dân. Ngôn ngữ thì quát nạt hơn là nói. Có khi còn dùng cả ngôn ngữ tay chân. Còn nhớ một ông phó bí thư (?) tát một bạt tay vào mặt bà cụ khi bà nhờ ông này mua vé. Lại có quan chức nghĩ rằng VN có luật của VN, nên bất chấp luật quốc tế. Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà VNA phớt lờ tòa án Ý và phải lãnh đủ hậu quả.

Thứ ba là văn hóa làm thuê. Người làm thuê chỉ nghĩ đơn giản làm cho xong việc và việc đáng với đồng lương. Một suy nghĩ rất phổ biến trong giới quan chức là trả lương đến đó thì làm việc đến đó.Họ không suy nghĩ gì ngoài chuyện cơm áo gạo tiền. Họ không cần phấn đấu (mà phấn đấu có khi lại nguy hiểm vì bị đồng nghiệp dèm pha) và chỉ làm việc như cái máy, cứ như đến hẹn lại lên.Tôi gọi đó là văn hóa làm thuê, và kẻ làm thuê thì chẳng cần quan tâm đến chuyện công chúng, vì đối với họ đất nước này ai quản lí chẳng thành vấn đề; vấn đề là có cơm ăn áo mặt cái đã. Đối với những quan chức loại này thì không mong gì họ có lòng với quê cha đất tổ và sự im lặng của họ hoàn toàn có thể hiểu được.

Thứ tư là do sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh chức vụ đi đôi đặc quyền và đặc lợi, thì có thể hiểu được các quan chức cần bảo vệ chức vụ của mình. Một cách an toàn là không phát biểu gì đụng chạm, hay tốt hơn nữa là … im lặng. Đó là chưa kể tình trạng chồng chéo về trách nhiệm và quyền lực. Một cơ quan có thủ trưởng nhưng cũng có bí thư. Nếu hai người này là một thì thủ tục còn tin giản, nhưng nếu là hai người khác nhau thì có khi cũng phiền phức. Nếu một quan chức muốn phát biểu họ phải xin phép cấp trên, và cấp trên lại xin phép cấp trên, cấp trên xin phép Đảng ủy, và cứ như thế chẳng ai dám nói gì.

Thứ năm là đá bóng. Nhìn qua cách hành xử của các cơ quan công quyền, họ có xu hướng “đá bóng”. Người này tìm cách biện minh không nằm trong quyền hạn hay trách nhiệm của mình, rồi đề nghị qua người khác; người khác cũng có lí do để nói không thuộc trách nhiệm của mình. Nhất là vấn đề liên quan với nước ngoài, người ta càng dè dặt, dè dặt đến nổi cuối cùng chẳng ai có động thái gì.

Lại có một loại quan chức nghĩ chuyện quốc gia đại sự là chuyện của lãnh đạo, để cho lãnh đạo giải quyết. Còn lãnh đạo thì nghĩ đó là chuyện của lãnh đạo cấp cao hơn. Cuối cùng thì chẳng có ai hành động. Thay vì hành động thực tế thì Việt Nam có những đề nghị và chỉ thị (rất nhiều chỉ thị). Mà khi đã có hàng tá đề nghị lên và chỉ thị xuống thì sự việc coi như “đã rồi”, chẳng còn cứu vãn được tình thế.


Thứ sáu là vấn đề tiếng Anh. Phải ghi nhận rằng các quan chức rất kém tiếng Anh. Do đó, đứng trước một văn bản tiếng Anh, họ không hiểu, hoặc hiểu nhưng không tốt lắm, và ngay cả hiểu nhưng không biết cách soạn thảo một văn thư trả lời. Ngay cả quan chức Bộ Ngoại giao cũng hạn chế tiếng Anh thì khó trách các bộ và ngành khác. Từ hạn chế về tiếng Anh dẫn đến thiếu tự tin, và hệ quả là … im lặng.

Dù là vô cảm, ngạo mạn, vô trách nhiệm, đá bóng, hay tiếng Anh (hay bất kể lí do gì) thì văn hóaim lặng đáng sợ là không thể chấp nhận được. Ngày nào cái văn hóa đó còn tồn tại thì ngày đó hệ thống hành chính chưa văn minh, người dân vẫn còn khổ, và chủ quyền quốc gia còn bị đe doạ. Người ta có thể cười đùa với quan chức im lặng, nhưng im lặng trước vấn đề chủ quyền tổ quốc bị xâm phạm là một sự phản bội (và người đó không xứng đáng làm người Việt) chứ không phải chuyện đùa được.


Mưu sâu họa càng sâu !



Lang thang trên net, tình cờ kiếm được tập tranh biếm họa "Mưu sâu họa càng sâu!", đả kích tập đoàn bành trướng Bắc Kinh xâm lược do Nhà xuất bản Quân Đội nhân dân ấn hành 20.200 cuốn vào tháng 12 năm 1979, khi "toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới". Các họa sĩ vẽ tranh gồm; Nguyễn Đạo Hưng, Trịnh Lập, Dương Lê, Nguyễn Nghiêm, Huy Quang, Văn Thanh. Xem lại những bức tranh này thật thú vị, và hơn nữa ta vẫn thấy được nguyên vẹn tính thời sự nóng hổi của chúng. Bá quyền Bắc Kinh cho đến giờ vẫn đang tiếp tục lâm le mưu toan xâm chiếm lãnh hải Việt Nam. Tiếc rằng, ngày nay chẳng ai dám đả kích đám "thiên triều" này như cách đây 30 năm, những cuốn sách như thế này cũng hiếm… (hình như không có!!!)… Ở thời điểm này, những gì làm ảnh hưởng đến 4 tốt và 16 chữ vàng cũng đều "nhạy cảm". Nếu có ai đó động đến Trung Nam Hải, có ý kiến về vấn đề Biển Đông, biểu tình phản đối TQ…. sẽ bị cho rằng là do các "thế lực thù địch"kích động, xúi giục, hướng dẫn... 

Trong khi ngày 27/9/2011, trên Hoàn cầu Thời báo của ĐCS Trung Quốc kêu gọi dạy Việt Nam và Philippines “bài học đạo đức” bằng vũ lực và cho rằng: "Giết những con gà để dọa bầy khỉ" với hình minh họa VN như con cá trong chậu cảnh!







Nhân quốc khánh TQ, mời thưởng lãm một số biếm họa được chọn lọc trong sách: