Pages

Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Bưởi non chữa bệnh gan nhiễm mỡ


Để cải thiện bệnh gan nhiễm mỡ, bạn nên lấy quả bưởi non thái lát phơi khô, sao vàng và sắc uống dần.

Gan nhiễm mỡ là hiện tượng mỡ trong tế bào gan tích tụ quá nhiều. Bình thường, gan chỉ chứa lượng mỡ khoảng 3-5%. Nếu con số này lên tới 10-25% ngĩa là bạn bị gan nhiễm mỡ trung bình, trên 25% là gan nhiễm mỡ nặng.



Để chữa bệnh gan nhiễm mỡ, nên hái quả bưởi còn non
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh này như quá thừa dinh dưỡng, uống nhiều rượu, do dùng thuốc, do nội tiết… Gan nhiễm mỡ sẽ bị ảnh hưởng chức năng, gây chán ăn, trướng bụng, dần dần xơ hóa tế bào gan. Gần đây, một số nơi có kinh nghiệm dùng quả bưởi non rửa sạch, thái miếng mỏng, phơi sấy khô rồi sao vàng sắc uống để chữa bệnh gan nhiễm mỡ, đem lại hiệu quả tốt.

Trong vỏ bưởi có 2,5-3,2% flavonoid neohesperidin, poncirun, isosakuranetin… Nó có tác dụng bảo vệ tế bào gan, nhuận gan, lợi mật, nâng cao tính bền của thành mạch, chống xơ vữa động mạch, có tác dụng chữa gan nhiễm mỡ.

Để chữa gan nhiễm mỡ, bạn có thể dùng quả bưởi non theo cách sau: Ngắt quả bưởi non (quả có vỏ xanh, nhỏ, vị đắng, múi còn khô) thái thành lát mỏng, đem phơi cho khô, cho vào chảo sao cho chuyển sang màu vàng, có mùi thơm và khô kiệt.

Mỗi ngày dùng 30-50 gr bưởi non sao khô cho vào 500 ml nước, sắc kỹ trong 30 phút, chắt lấy nước chia uống ba lần trong ngày. Nước sắc bưởi non màu nâu nhạt, mùi thơm, vị đắng, có tác dụng làm giảm mỡ trong máu, chữa bệnh mỡ máu và gan nhiễm mỡ.


Theo Khoa Học & Đời Sống

Điện thoại tư vấn: 0936.44.83.84 - 091.352.6885

Hay uống bia rượu nên thử xem


Thành phần

Cao khô Cà gai leo 250mg
Cao khô Diệp hạ châu 250mg
Tinh bột, Magnesi stearat, Bột talc vừa đủ 1 nang

CÔNG DỤNG:

- Giải độc rượu
- Góp phần bảo vệ gan, ức chế sự xơ hoá tế bào gan
- Hỗ trợ điều trị viêm gan virut

1.Cà gai leo (tên khoa học: Solanum hainanse Hance Solanaceae), còn có các tên khác là Cà gai dây, Cà vạnh, Cà quýnh, Cà lù, Gai cườm.


Kinh nghiệm dân gian cà gai leo dùng chữa ngộ độc rượu. tác dụng bảo vệ gan mạnh đến nỗi chỉ cần chà răng hoặc nhấm rễ cà gai leo thì khi uống rượu sẽ tránh được say, nếu bị say thì uống nước sắc của rễ hoặc thân lá sẽ nhanh chóng tỉnh rượu. Ngoài ra còn dùng chữa rắn cắn , đau nhức xương. Những kinh nghiệm dân gian này là tiền đề cho các công trình mà các nhà khoa học viện dược liệu TW , các thày thuốc nghiên cứu rất kỹ lưỡng về cây cà gai leo với tác dụng quý báu đối với chức năng gan từ đầu những năm 90.

1.1 Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu thuốc từ Cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan”, do TS. Nguyễn Thị Minh Khai làm chủ nhiệm, đã chứng minh Cà gai leo (dạng chiết toàn phần hay bộ phận và dạng chiết hoạt chất chính glycoalcaloid) có tác dụng bảo vệ gan, ức chế phát triển xơ gan. Đồng thời cũng đã chứng minh được tác dụng chống viêm và tác dụng chống oxy hóa của dược liệu này. Đề tài đã xác định được độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của Cà gai leo.
Những kết quả thu được của đề tài cho phép kết luận Cà gai leo có thể được dùng làm thuốc chữa viêm gan, đặc biệt là viêm gan virus B mãn tính thể hoạt động.

1.2. Đề tài “Nghiên cứu điều trị hỗ trợ bệnh nhân viêm gan virus B mãn tính thể hoạt động bằng thuốc từ Cà gai leo” đã tiến hành thử lâm sàng trong 2 tháng tại các Quân y viện 103, 354 và 108 trên 60 bênh nhân viêm gan virut B thể hoạt động. Có thể rút ra các kết luận sau:
- Thuốc có tác dụng giảm nhanh các triệu chứng lâm sàng (mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải, nước tiểu vàng, da niêm mạc vàng...) (P < 0,05). Transaminase và bilirubin về bình thường nhanh hơn nhóm chứng (P < 0,05).
- Thuốc không gây một tác dụng ngoài ý muốn nào trên lâm sàng và xét nghiệm.

1.3. Luận án Tiến sĩ dược học năm 1997 “Nghiên cứu lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với TNT và tác dụng bảo vệ gan của Cà gai leo trên thực nghiệm” đi đến kết luận rằng, dịch chiết cây Cà gai leo có tác dụng bảo vệ gan chuột dưới ảnh hưởng độc của TNT, với các khả năng hạn chế tăng trọng lượng gan do nhiễm độc, ngăn chặn thoái hóa mỡ và hiện tượng chảy máu vi thể trong nhu mô gan, làm giảm sự hủy hoại tế bào và sự tan rã mô gan, do đó bảo vệ được cấu trúc của tiểu thùy gan.

1.4. Luận án Tiến sĩ dược học năm 2002 “Nghiên cứu cây Cà gai leo làm thuốc chống viêm gan và ức chế xơ gan” đã thử dạng chiết toàn phần và dạng chiết glycoalcaloid của Cà gai leo trên mô hình chống viêm gan mãn tính, trên colagenase, mô hình xơ gan thực nghiệm và tác dụng chống oxy hóa. Kết quả thu được cho thấy:
- Dạng chiết toàn phần và dạng chiết glycoalcaloid của Cà gai leo làm giảm trọng lượng u trên mô hình u hạt thực nghiệm.
- Cả hai chế phẩm đều có tác dụng làm giảm hàm lượng colagen gan trên mô hình gây xơ gan.
- Glycoalcaloid là hoạt chất chính có tác dụng ức chế phát triển xơ gan, chống viêm, bảo vệ gan.
- Phát hiện thêm những tác dụng dược lý mới, như tác dụng trên hệ miễn dịch, trên tế bào ung thư...
- Đã xác định được độc tính cấp, độc tính bán trường diễn và độc tính trường diễn của Cà gai leo.

2. Diệp hạ châu (tên khoa học: Phyllanthus urinaria L. Euphorbiaceae), còn có các tên khác là Chó đẻ răng cưa, có trong các Dược điển Việt Nam III và IV.

-Công năng, chủ trị: Tiêu độc, hoạt huyết, lợi mật, thanh can, sáng mắt, lợi thuỷ. Dùng khi viêm gan hoàng đản, viêm họng, mụn nhọt, viêm da thần kinh, chàm, viêm thận, phù thũng, sỏi tiết niệu, viêm ruột, tiêu chảy
-Các nghiên cứu chỉ ra tác dụng kìm hãm sự phát triển của virut viêm gan b, hỗ trợ chức năng gan, bảo vệ tế bào gan, giải độc. Nghiên cứu của Nhật bản và Ấn đọ trong năm 1980 đã xác định những tác dụng điều trị của Diệp hạ châu đối với bệnh gan là do tác dụng của các hoạt chất phyllanthin, hypophyllanthin và triacontanal. Glycoside được tìm thấy trong Diệp hạ châu đã ức chế men Aldose reductase, do các nhà nghiên cứu Nhật bản kết luận thông qua một nghiên cứu tiến hành vào những năm 1988-1989. Đặc biệt cuối những năm 80, Break Stone đã gây được sự chú ý đối với toàn thế giới về tác dụng chống virut viêm gan B của Diệp hạ châu.

ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG:

- Người uống rượu nhiều, ngộ độc do rượu hay sau khi dùng thuốc có độc tính với gan.
- Người có men gan tăng cao, mẩn ngứa, mề đay, ăn uống kém, khó tiêu, xơ gan
- Viêm gan virut đang điều trị hay sau điều trị các bệnh về gan

Chú ý:

+ Không khuyên dùng cho cho phụ nữ có thai và cho con bú.
+ Ngừng sử dụng nếu không dung nạp hay quá mẫn với thành phần trong công thức.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG:

- Mỗi lần 2 viên ngày từ 1 đến 3 lần. 
- Nếu người sử dụng đang dùng thuốc tân dược nên uống cách xa trước hoặc sau 2h ( không khuyên dùng chung thuốc có nguồn gốc hoá dược và nguồn gốc dược liệu do làm giảm tác dụng hay mất tác dụng của nhau)

BẢO QUẢN: nơi khô thoáng

Đây là thực phẩm chức năng, không sử dụng để thay thế thuốc chữa bệnh

Sản xuất : HD Pharma (WHO – GMP)

102 Chi Lăng, Thành phố Hải Dương

Quí vị có nhu cầu mua Cà gai leo vui lòng liên hệ:

Công ty CP SP Thiên Nhiên Tinh Hoa

ĐC: Tứ hiệp-Thanh Trì-Hà nội.

Điện thoại tư vấn: 0936.44.83.84 - 091.352.6885

Phòng tránh gan nhiễm mỡ

(Dân trí) - Gan nhiễm mỡ có thể là hậu quả của tình trạng uống nhiều rượu, mắc các bệnh về chuyển hoá, do sử dụng thuốc và các rối loạn về dinh dưỡng. Vậy để phòng tránh bệnh gan nhiễm mỡ chúng ta phải làm gì?

Dưới đây xin giới thiệu 3 bước giúp bạn tránh nỗi lo gan nhiễm mỡ:

Trước tiên, không nên uống quá nhiều rượu. Theo quan niệm của Đông y rượu có thể sinh thấp nhiệt, những người thường xuyên uống quá nhiều rượu sẽ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa. Vậy nên nếu bạn có tiền sử mắc bệnh gan nhiễm mỡ nên nhớ kiêng rượu bia.


Bí đao - Món ăn tốt cho người có tiền sử gan nhiễm mỡ


Thứ hai,chú ý khi lựa chọn thức ăn phải ăn cả rau quả và thịt cá. Những người mắc bệnh gan nhiễm mỡ tốt nhất không nên ăn hàng quán mà hãy về nhà ăn cơm sẽ điều chỉnh được tốt hơn. Bạn lựa chọn ăn những thực phẩm có hàm lượng protein cao như trứng gà, cá, đậu phụ, bí đao… Ở đây đặc biệt lưu ý công dụng của bí đao. Theo Đông y bí đao có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lợi niệu,c ó thể loại bỏ năng lượng dư thừa trong cơ thể. Bởi thế trong bữa ăn hàng ngày nên ăn nhiều bí đao, nhất là những người có tiền sử gan nhiễm mỡ.

Thứ ba, vận động thể lực đều đặn. Cuộc sống hiện nay có rất nhiều người vì lý do nào đó ăn bữa sáng và bữa trưa ít nên dồn tất cả vào bữa tối hay thường nhậu nhẹt vào buổi tối khiến cho cơ thể không thể đào thải hết mà vẫn tích tụ lại. Bạn nên kiên trì luyện tập thể thao như đi bộ, chơi các môn thể thao như cầu lông, bóng bàn, bơi lội… mỗi ngày 30 phút, duy trì 5 buổi một tuần.

Hà Ngọc
Theo Sina

Cây Kế sữa – Thảo dược trị gan nhiễm mỡ!



Với những tác dụng tuyệt vời, cách đây hàng nghìn năm cây kế sữa thần kỳ đã có mặt hầu khắp các nước trên thế giới. Giờ đây ở Mỹ, có đến 1/3 dân số trưởng thành (khoảng 60 triệu người) sử dụng các thuốc bổ từ kế sữa một cách thường xuyên để chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Tại Việt Nam, TRAPHACO – Công ty dược phẩm hàng đầu về sản xuất đông dược cũng đã cho ra đời sản phẩm Carmanus chiết xuất từ kế sữa kết hợp cùng vitamin nhóm B. Thuốc đặc trị gan nhiễm mỡ, suy gan ở người nghiện rượu, viêm gan cấp và mãn, hỗ trợ điều trị xơ gan. Hiện đã có nhiều người sử dụng Carmanus, thuốc cho hiệu quả rất tốt!



Nói về các bệnh gan, đặc biệt là gan nhiễm mỡ, y học cho rằng xã hội càng hiện đại thì bệnh này càng gia tăng mạnh mẽ. Bởi gan nhiễm mỡ không chỉ thấy ở người suy dinh dưỡng lâu ngày do thiếu các enzym để đưa mỡ ra khỏi gan. Mà gan nhiễm mỡ còn có ở những người lười vận động, ăn uống dư thừa chất béo, chất đường, uống nhiều rượu… Ngoài ra, các bệnh tiểu đường type 2, tăng mỡ máu, lao, viên gan C mãn tính, dùng và kéo dài các thuốc corticoid, oestrogen, thuốc chữa ung thư… cũng có thể dẫn đến gan nhiễm mỡ.

Gan luôn luôn chứa một lượng mỡ nhất định nhưng nếu lượng mỡ nhiều hơn từ 5 – 10% trọng lượng của gan, gan đã bị nhiễm mỡ và có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Nếu bị gan nhiễm mỡ thì có tới 25% bệnh nhân tiến tới bị xơ gan với tỷ lệ tử vong khoảng 10%.

Chính bởi tính chất nguy hại này của bệnh gan nhiễm mỡ với con người mà nhiều nhà khoa học vào cuộc. Công dụng thần kỳ từ cây kế sữa cũng đã là đề tài nghiên cứu thành công của các nhà khoa học thế giới (Sonnenbichler J và Moulisova V, Song Z, Lucena MI…).

Khi nói về cây kế sữa (còn gọi là kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai…) phải kể đến những dòng sữa trắng óng, mềm mại được tuôn ra (khi bạn vô tình vò nát những chiếc lá sáp có gai nhỏ). Truyền thuyết Châu Âu cho rằng, những vân trắng nổi trên bề mặt lá là vết tích những dòng sữa của Đức mẹ Đồng trinh nhỏ xuống. Vì thế, dòng sữa này có tác dụng dùng để kích sữa cho phụ nữ sau khi sinh. Hoa kế sữa rất đẹp và lạ, hạt của kế sữa cũng có nhiều công dụng.

(Theo 24h.com)Để tìm hiểu thêm các bạn có thể vào tranghttp://www.thaythuoccuaban.com. Tại đây bạn có thể nói chuyện, tâm sự và nhận được sự tư vấn trực tiếp của Lương y Quốc gia Nguyễn Hữu Toàn. Bạn có thể hoàn toàn yên tâm khi được Lương y Nguyễn Hữu Toàn bắt bệnh và chữa trị khỏi bệnh viêm gan, xơ gan, men gan cao chỉ khoảng 16 - 20 tuần sử dụng thuốc. Các bệnh nhân ở xa sẽ được chuyển thuốc đến tận nơi, theo địa chỉ bệnh nhân cụ thể. Nếu bạn có thắc mắc về sức khỏe của mình, bạn có thể vào trang http://www.thaythuoccuaban.com/benhan.asp kể bệnh để nhận được sự tư vấn của Lương y 
Phòng khám đông y Nguyễn Hữu Toàn - Lô 22 - Lê Hồng Phong - Ngô Quyền - Hải Phòng 


Cây Cúc gai (Silybum marianum) thuộc họ Cúc Asteraceae, là cây thảo 1-2 năm, ra hoa vào năm thứ 2, nguyên liệu dùng sản xuất thuốc là hạt quả hoặc toàn cây. Cây phát triển chủ yếu ở châu Âu, châu Phi, Nam Mỹ, Trung và Đông Á . 

Đây là một cây thuốc có giá trị cao, để điều trị các bệnh hiểm nghèo về gan thận, hiện đang phổ biến ở nước ta. Do đó việc khai thác phát triển sử dụng cây Cúc gai đã được di thực trồng ở Việt Nam để sản xuất các chế phẩm thuốc chữa bệnh gan thận trong nước tạo nguồn dược phẩm quí, mới, phong phú và rẻ tiền phục vụ bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Cần nói rõ với bạn là cây này là cây di thực nên không có mọc tự nhiên đâu nhé, nó chỉ được trồng hạn chế ở một số nơi thôi. Cụ thể là các vùng núi như Sapa, Tam đảo và Mộc Châu, bạn hỏi xem trên vùng trồng cây thuốc Tam Đảo ấy, chắc chắn là có cây này, hoặc vùng trồng thuốc của Sapa. Cây ra hoa từ tháng 5 - 8 bạn nhé. Hoặc bạn đến Khoa Sinh học or Công Nghệ Sinh học trường ĐH Quốc Gia Hà Nội xin sẽ có, hoặc Phòng Công nghệ tế bào thực vật - Viện công nghệ sinh học Việt nam.

Đây là hoa của nó này...



Và hạt...



Tổng quan...




Tham khảo

Tổng hợp các thông tin về cây CÚC GAI / KẾ SỮA













Những bài thuốc quý từ rau dại

Rau càng cua, rau dền canh, rau dừa nước, ... mọc hoang dại khắp nơi như ven suối, bờ ao, đồng ruộng, ... nhưng ít ai biết rằng đó lại là những vị thuốc quý giá.

Theo dược sĩ Lê Kim Phụng, Đại học Y dược TPHCM, những bài thuốc từ rau dại dễ sử dụng, không mất tiền mà nó còn có thể giúp chúng ta tự bảo vệ và tăng cường sức khỏe.



Rau càng cua (Peperomia peliucida, họ hồ tiêu): đây là loại cỏ mọng nước, mọc nhiều ở các chân tường ẩm, vùng đất ruộng ẩm ướt. Hoạt chất chiết từ rau càng cua có tác dụng chống viêm, giảm đau nhức, kháng khuẩn rộng trên các chủng S. Aureus, B. Subtilis, P. Aeriginosa và E. Coli, dịch chiết trong clorofoc có tác dụng kháng nấm T. Mentagrophyte

Ở nhiều nước trên Thế giới, người ta dùng toàn cây rau càng cua làm thuốc chữa đau bụng, áp xe, mụn, phỏng nước, gout, rối loạn chức năng thận, thấp khớp. Người dân Bolivia và dân Brazil dùng toàn cây chữa các chứng xuất huyết, sốt cao, làm lành vết thương, chữa ho, hạ cholesterol huyết và trị bệnh tiểu nhiều protein. Mỗi ngày dùng tươi từ 100-200g hoặc sắc lấy dịch chiết cô đặc chia nhiều lần uống trong ngày.


Rau càng cua


Rau dền canh (Amaranthus tricolor): còn gọi là rau dền tía, rau dền cơm, rau dền gai và mọc hoang hoặc được trồng nhiều để làm rau ăn, luộc, xào hoặc nấu canh. Trong lá rau dền chứa hàm lượng vitamin A rất cao, ngoài ra còn có vitamin B, C, PP, nhiều protid đặc biệt là lysin với hàm lượng cao hơn cả bắp, lúa mì và đậu tương. Rau dền có vị ngọt, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, sát trùng, giải độc. Mỗi ngày, 200-500g rau dền luộc ăn và uống cả nước hoặc đem nấu canh ăn giúp thông tiểu, nhuận trường, chữa táo bón, kiết lị, các trường hợp dị ứng, mẩn ngứa hoặc do côn trùng đốt. Dùng luôn cả hoa và hạt rau dền có tác dụng trừ phong nhiệt, chữa mắt mờ, mắt có màng mộng (phối hợp thêm hạt thảo quyết minh cùng lượng, sắc uống).

Rau dừa nước (Ludwigia adscendens): còn gọi là rau dừa, mọc hoang nhiều ở các ruộng nước, ao đầm, mương rạch, thân mềm xốp có nhiều phao xốp màu trắng giúp cho thân cây nổi trên mặt nước. Thành phần rau dừa nước chứa nhiều protid, glucid, chất xơ, khoáng tố như canxi, photpho, sắt, nhiều carotene, vitamin C, flavonoit và tanin. Nhờ vậy, rau dừa nước có giá trị dinh dưỡng khá cao.
Dùng làm rau ghém ăn mắm kho hoặc luộc nấu canh. Từ lâu người ta dùng rau dừa để chữa bệnh đường tiết niệu như viêm bàng quang, viêm cầu thận cấp, tiểu buốt, tiểu gắt, tiểu ra máu và đặc biệt là chứng tiểu ra dưỡng trấp (tiểu đục); mỗi ngày dùng 30-40 g khô, phối hợp thêm rễ cây đa 20 g, tì giải 15 g, sắc lấy nước uống trong 5-7 ngày. Rau dừa có vị ngọt nhạt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, lương huyết, còn dùng chữa cảm sốt, đau bụng, dùng ngoài giã đắp còn trị rắn cắn, mụn nhọt, sưng lở. 




Rau dừa nước (ảnh: nguồn internet)

Rau đắng đất (Glinus oppositifolius),còn gọi là rau đắng lá vòng, mọc hoang trên các vùng đất khô cạnh bãi sông, ven biển, nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Có thể thu hái quanh năm, nên hái lúc cây chưa ra hoa, rửa sạch, ăn sống hoặc làm rau ghém ăn với món cháo cá lóc. Rau đắng đất có vị đắng, tính mát, dùng trị kinh phong, nhuận gan, thông tiểu. Được dùng để chữa các bệnh về gan như viêm gan vàng da, nổi mề đay, sốt nóng trong người (thêm dây cứt quạ đồng lượng, sắc uống). Mỗi ngày 50-100 g nấu canh ăn hoặc sắc lấy nước uống.
Rau mương (Ludwigia hyssopifolia), còn gọi là cỏ cuốn chiếu, mọc nhiều ở các vùng ẩm ướt, bờ đê, gò ruộng, rất nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nông dân thường hái ngọn non nấu canh hoặc làm rau ăn, theo y học cổ truyền, rau mương có vị ngọt nhạt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ thũng, cầm máu, tiêu sưng.
Dùng làm thuốc cầm tiêu chảy, chữa lị, cảm mạo có kèm sốt, viêm hầu họng, miệng lưỡi, mụn lở sưng đau, ngày 10-20 g lá khô sắc uống, hoặc 100-200 g lá tươi nấu canh ăn. Nếu viêm miệng lưỡi thì sắc lấy nước súc miệng ngày 2-3 lần.

Rau sam (Portulaca oleracea), mọc hoang dại trong các bãi cỏ, công viên, vườn, sân, bờ ruộng. Rau sam có vị chua hơi đắng, tính mát, chứa nhiều glycosit, saponin, chất nhầy, axít hữu cơ, muối kali và nhiều vitamin như A, B1, B2, C và PP. Rau sam có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lọc máu, nhuận trường, tẩy giun, an thần nhẹ. Được dùng để trị viêm ruột cấp, lị, ký sinh trùng đường ruột như giun đũa, giun kim (phối hợp thêm cỏ sữa), đi cầu ra máu (thêm cỏ mực, rau má), ho gà, ho lâu ngày, niệu đạo xuất huyết như tiểu ra máu, sỏi niệu.



Rau sam (ảnh: nguồn internet)

Mỗi ngày 15-30 g lá khô hoặc 50-100 g lá tươi sắc lấy nước uống. Có thể ăn như rau sống, xào chín hoặc làm rau ghém chấm mắm kho ăn cho mát. Dùng ngoài giã đắp chữa mụn nhọt, đinh râu.
(Theo NLĐ)